Tháng 8 năm 1978 là đợt tuyển quân thứ 2 trong năm ( tháng 5 là đợt tuyển thứ nhất). Gần như tổng động viên nên lứa tân binh từ khu vực thị trấn Xuân hòa ra đi bao gồm nhiều thành phần ( học sinh, sinh viên, công nhân, viên chức) đủ mọi lứa tuổi (từ 18 cho đến 28 tuổi).
Ngày 22 tháng 8 tân binh trúng tuyển tập trung tại thị trấn Xuân Hòa sau đó được bố trí ở nhà dân chờ xe đến đón.
7 giờ sáng ngày 24 tháng 8, sau khi mỗi người nhận hai khẩu phần ăn cả ngày là 2 chiếc bánh mì nhỏ không bột
nở (mà khi đó chúng tôi gọi là loại bánh "ném chó chó chết"), tất cả lên xe rời thị trấn Xuân Hòa đi ra quốc lộ 2 ngược lên Hà giang. Tôi được bố trí lên xe Zin ba cầu chạy sau cùng ( là xe hộ tống cả đoàn xe chở quân 2 cầu mang nhãn hiệu giải phóng). Do chưa được phát quân trang nên tất cả tân binh ngồi trên xe nom như đoàn dân công hỏa tuyến . Sau khi qua phà Đoan Hùng lúc lên dốc, chiếc xe chở tôi bị tụt cầu không chạy tiếp được nữa nên chúng tôi phải ở lại chờ xe quay lại đón . Chính vì vậy đến 21 giờ 30 chúng tôi mới đến ngã 3 Vạt, xã Việt lâm.huyện Vị xuyên, Hà tuyên.
Ngã ba Vạt ngày nay
Lúc này trời vẫn còn đang mưa nặng hạt, chúng tôi xuống xe tay ôm bọc quần áo thường phục, bước thập thõm bước thấp, bước cao theo sau ánh đuốc và đèn pin của các cán bộ nhận quân. Đường trơn, đất dính có những lúc phải lội qua suối nên làm bật quai đôi "gò" của tôi đang đi, thôi thì đành phải tháo cầm tay và lội bộ chân trần vậy. Hành quân bộ thêm 5 km nữa chúng tôi đến bản Trang vào tập trung dưới gầm nhà sàn ông Thơ. Bữa cơm tối đã được bày ra sẵn chờ đón chúng tôi tự bao giờ. Mỗi người được hai miếng bánh mì luộc ăn với đĩa "mắc cà lào" sào không mỡ với nước chấm "đại dương". Sau khi điểm danh,và ăn tối xong mọi người được chia về các nhà dân quanh bản để ở. Tôi sau mấy ngày ốm và gần như thức trắng đêm hôm trước cộng thêm say xe nên sau khi điểm danh và biết phải đi tiếp tôi xin phép được ngủ tại nhà ông Thơ vì quá mệt. Được sự đồng ý của cán bộ đại đội, tôi ra suối rửa chân, trèo lên sàn thay quần áo, hơ người qua bếp lửa giữa nhà, uống thuốc mang theo rồi lăn ra ngủ. Sáng hôm tỉnh dậy, sau mở mắt ra thấy sương mù mờ mịt. Khi sương tan, thấy ba bề, bốn bên là núi đập vào mắt mới thấy heo hút nao lòng. Gọi là bản nhưng các nhà ở lưa thưa, cách xa nhau.
Sau ăn sáng là công tác biên chế, nhận quân trang, ổn định nơi ăn chốn ở theo đội hình các tiểu đội và các trung đội theo khu vực. Thời kì này quân trang ta mới bắt đầu tự chủ, nội địa hóa do Trung quốc đã cắt viện trợ từ lâu và không còn vải tốt để may nên chất lượng quân trang không được tốt, ba lô nhỏ hơn bằng vải dày chứ không phải bằng vải bạt, có 2 túi cóc chứ không phải 3 cóc. Mũ, dép đúc, dày, quần áo....chất lượng cũng không được tốt bền như trước. Tân binh xe cuối cùng chúng tôi được biên chế về đại đội thông tin trực thuộc trung đoàn. Cán bộ khung đại đội là lính cũ dạn dày kinh nghiệm chiến trường. Đại đội trưởng là thiếu úy Nguyễn Đức Thanh quê Nam Định thương binh hạng 2 (ở đầu gối). Chính trị viên là thiếu úy Nguyễn văn Rường quê Bá Hiến, Vĩnh Phú. đại đôi phó là chuẩn úy Lê Hữu Hải nhập ngũ năm 1971 quê Triệu sơn, Thanh Hóa. Các cán bộ tiểu đội và cán bộ trung đội cũng đều là lính tái ngũ ( từ thời chống mỹ) với quân hàm từ hạ sỹ đến trung sỹ. Duy nhất tiểu đội 10 thông tin truyền đạt, tiểu đội trưởng và tiểu đội phó là tân binh với quân hàm binh nhì. Ngoài trang bị vũ khí cá nhân là khẩu AK47, các trung đội được trang bị máy thông tin có xuất xứ đều của Trung quốc chất lượng không cao và không còn mới. Trung đội 1 là tổ máy 15W. Trung đội 2 thông tin hữu tuyến dùng tổng đài 15 cửa, máy điện thoại 0743 và QT65 , dây điện thoại đầu tiên dùng dây "súp" cuốn trong guồng sừng bò( sau này thêm điện thoại con cóc và dây đôi doViệt Nam sản xuất vừa nặng vừa cồng kềnh) . Trung đội 3 thông tin vô tuyến dùng máy 2W ( 71si líc ăng ten cần tán xạ và 884 dùng ăng ten cần cô li cốp). Tiểu đội 10 thông tin truyền đạt được trang bị 1 xe đạp, túi văn thư,xà cột, súng pháo hiệu. Sang ngày thứ 2 chúng tôi bước ngay vào 3 tháng huấn luyện tân binh. Mỗi tuần từ thứ 2 đến thứ 7, riêng sáng chủ nhật vào rừng lấy củi nộp cho nhà bếp ( khô thì 30 kg , tươi 50kg) chỉ còn buổi chiều chủ nhật nghỉ ngơi tắm giặt. Cũng may thời kì đầu được ở nhà dân nên khá thoải mái không bị o ép nhiều. Chúng tôi vừa tham gia huấn luyện vừa tranh thủ học đôi ba tiếng tày để mà giao tiếp để mà biết cách gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi em, biết gọi "tu" là "con" , "mắc" là "quả", "kin" là "ăn","nòn" là ngủ.... đôi khi cũng không tránh khỏi chuyện buồn cười của các anh chàng học tán gái bị lừa kiểu "tam sao thất bản". Tháng 12 năm 1978 sau khi bắn đạn thật kết thúc giai đoạn 1 huấn luyện, tất cả các tân binh đạt kết quả khá đều được phong quân hàm từ binh nhì lên binh nhất, và bước vào giai đoạn 2 huấn luyện : học chuyên môn kèm hành quân dã ngoại (lên vùng Quảng ngần, Thượng sơn thuộc Xín mần hoặc ra xã Trung Thành ,Vị xuyên) đồng thời tham gia khai thác vật liệu xây dựng doanh trại ra ở riêng để xây dựng nề nếp chính quy, không ở nhờ nhà dân nữa . Chúng tôi đón tết năm 1979 ở doanh trại mới tuy chưa thật hoàn chỉnh.
Nền doanh trại cũ bên bờ suối
Tết đầu tiên tất cả cấm trại, không được về nhưng đại đội vẫn có trường hợp bỏ trốn bị quân cảnh bắt nhốt. Chỉ thương cảnh chị em ở đại đội 24 quân y và 25 vận tải ôm nhau khóc trong 3 ngày tết ( sau này chị em vẫn không khỏi sụt sùi kể lại khi gặp nhau). Ra tết sau khi tập huấn vừa xong phần học chung để chuyển sang tập huấn chuyên môn lớp tiểu đội trưởng do trung đoàn mở thì ngày 17 tháng 2 năm 1979, chiến tranh biên giới phía bắc với Trung quốc nổ ra. Ngày 18 tháng 2 năm 1979 cả trung đoàn tôi chuyển trạng thái chiến đấu.
Sân trường cấp I,II nơi Trung đoàn ra lệnh chuyển trạng thái chiến đấu
Tôi trở về cùng đơn vị hành quân lên thành phố Hà giang kết thúc giai đoạn được gọi là "Tân Binh".



