(Dù
không sinh ra ở làng Tiên nhưng nơi đây đã cho tôi một tuổi thơ ngọt ngào).
Năm 1966 do nhu cầu của
chiến trường, phân xưởng quang học A5 của nhà máy Z1 Yên bái được chuyển về Hà
nội và nâng cấp thành nhà máy quang học Z123. Thời gian này, Mỹ tăng cường ném
bom miền Bắc nên nhà máy Z123 đang hình thành được sơ tán về các xã Xuân Giang,
Ngọc Hà, Việt long
của Huyện Đa Phúc, cách Hà nội khoảng 35 km đường chim bay.
Cũng chính
thời gian này, tôi
được chọn đi học ở nước ngoài theo chính sách quan tâm hậu phương của Đảng và
nhà nước dành cho con em cán bộ đi B. Mẹ để tôi
ở lại Hà nội với người Bác, còn mẹ và 2 em gái tôi theo nhà máy sơ tán lên Đa Phúc. Vì nhớ mẹ nên tôi lại trốn Bác đi tìm mẹ. Tôi chỉ nghe lóang thóang đường
lên Vĩnh Phú đi qua Phà chèm, vậy là với chiêc mũ rơm trên vai và 1 hào mẹ cho
tiền ăn sáng mà tôi nhịn ăn và để dành mua sách, tôi lên đường tìm mẹ, vừa đi vừa
hỏi đường. Quãng đường đi bộ từ Hồ hòan kiếm tới Phà Chèm với 1 đứa bé 5-6 tuổi
thật xa, tôi đi từ sáng sớm tới chiều, trên đầu nắng chang chang và tiếng máy
bay Mỹ gầm rú. Giữa trưa khát nước và đói bụng tôi ghé 1 quán nuớc ven đường đứng
tần ngần nhìn mấy củ khoai lang luộc, vì có ít tiền nên chỉ dành tiền mua nuớc
và không được mua khoai. Bà chủ quán tốt bụng nhìn tôi thương tình không lấy tiền
và chỉ đường cho tôi đi tiếp. Đứng trước Phà chèm đỏ ngầu cuồn cuộn, 1 chút do
dự rồi tôi bước lên phà qua sông. Nếu đọan đường bên kia bờ sông là đọan đường
nghĩ tới mẹ thì khi đứng bên này bờ sông tôi thực sự hỏang sợ, ngước nhìn bầu
trời rộng lớn muốn hỏi mẹ mà không ai biết. Tôi đã òa khóc….rồi bị lạc, phải
xin ăn và phải ngủ dưới gốc cây cổ thụ. Trong cái rét co ro tê tái của mùa đông
miền bắc tôi ước sao được về với mẹ và chập chờn mơ về mẹ. Khi tìm được mẹ tôi
đã kể cho mẹ nghe nỗi sợ hãi về những giấc ngủ không có mẹ, bên gốc cây già
trong cái đói, cái lạnh. Mẹ ôm tôi rất chặt nước mắt mẹ rơi ướt đầm vai tôi. Thế rồi mẹ tôi không cho tôi đi học nước ngoài vì thấy tôi còn
nhỏ và từ đó tuổi thơ của tôi được ở bên mẹ.
Những người
dân của 3 xã Xuân Giang, Ngọc Hà, Việt Long thật tốt bụng. Không
chỉ cho bộ đội đất làm nhà máy mà còn nhường nhà,
nhường dường cho bộ đội, công nhân ở. Lúc đầu mẹ tôi được Bác Hiển Xã Xuân
Giang cho ở nhờ. Nhà bác có 2 gian rất nghèo, có 2 cái dường, một cái mẹ con
Bác ngủ còn 1 cái 4 mẹ con tôi ngủ. Tôi học lớp 1 tại 1 ngôi nhà lá 2 gian nửa
nổi nửa chìm, liên thông với hầm trú ẩn chữ A, không vách, một bảng đen và mấy
chiếc bàn, ghế đơn sơ. Những tiếng ê a vang lên trong lòng đất, những bài thuộc
lòng mà đến tận giờ tôi chẳng thể nào quên:
“Quê em đồng lúa nương dâu,
Bên dòng song mhỏ nhịp cầu bắc ngang
Dừa xanh tỏa mát đường làng,
Ngân nga giọng hát rộn ràng tiếng thoi”.
Bài thơ làm
tôi nhớ tới Thầy Chính, thầy chủ nhiệm lớp đã yêu cầu tôi ngâm mà tôi chả biết ngâm thế
nào. Thầy
Chính đến với lớp tôi cũng là năm đầu làm thầy
giáo. Tính tinh nghịch của trẻ con vẫn còn. Một lần đi học về thấy con chim
chào mào đậu trên ngọn tre thầy nói Minh bắn đi. Tôi lôi nỏ cao su ra thì dây
chun bị đứt. Đang loay hoay buộc lại chun thì Thầy nhìn quanh không có ai, thầy
lôi trong túi quần 1 cái nỏ cao su rất đẹp và chọn 1 viên đá cũng trong túi quần
bắn con chim. Chú chim chào mào bay vụt đi, tôi xuýt xoa. Bắn xong thầy cất
nhanh cái nỏ vào túi rồi dặn: Đừng nói với ai thầy có nỏ nhé. Từ đó cứ mỗi lần
tan học tôi lại rảo bộ cùng thầy về trên con đường làng rợp bóng tre bên con
mương nhỏ mặt ngước lên các ngọn cây. Có 1 lần mưa to không qua mương được, thầy
xắn quần cõng tôi qua suối. Sau này khi tôi đã là giáo viên của trường Quân đội, khi đọc
truyện Người thầy đầu tiên của Aitmatov đến đoạn Thầy Đuysen cõng học sinh qua
con suối giá lạnh của mùa đông nước Nga tôi lại nhớ tới thầy Chính. Thầy yêu cầu
tôi là người đầu tiên viết chữ nhỏ, 1 dòng kẻ khi cả lớp đang viết
chữ to với chiều cao 2 dòng kẻ.
Thời gian
quấn quit bên thầy cũng trôi nhanh, buổi học cuối cùng, thầy vào lớp nhìn học
sinh và nói: Hôm nay là buổi học cuối, Thầy đọc cho các em bài thơ cuối cùng của
lớp 1. Giọng Thầy chậm rãi ấm áp, rồi Thầy nói tôi đứng dậy đọc. Với những tình
cảm yêu thương ấy cho đến giờ tôi vẫn nhớ bài thơ:
LỚP MỘT ƠI LỚP MỘT
Lớp một ơi lớp một
Đón em vào năm trước
Nay giờ phút chia tay
Gửi lời chào tiến bước
Chào bảng đen cửa sổ
Chào chỗ ngồi thân yêu
Tất cả chào ở lại
Đón các bạn nhỏ lên
Như đàn chim vỗ cánh
Tung bay trên đường dài
Các bạn thân yêu nhất
Tất cả lên lớp 2
Chào cô giáo kính mến
Cô sẽ xa chúng em
Làm theo lời cô dạy
Cô mãi luôn ở bên
Lớp một ơi lớp một
Đón em vào năm trước
Nay giờ phút chia tay
Gửi lời chào tiến bước
Năm học
sau gia đình tôi sơ tán về làng Tiên tảo Xã Việt long. Tôi xa
Thầy Chính và chỉ gặp lại thầy 1 lần duy nhất trong cuộc thi học sinh giỏi lớp
3 rồi sau đó bặt tin thầy cho tới giờ. Mẹ tôi lại được các gia đình ở làng Tiên
cho ở nhờ. Ngày ngày cha mẹ vào xưởng sản xuất đạn cối, ống nhòm cho chiến trường
còn chúng tôi mũ rơm trên vai tới trường. Anh em tôi thay nhau cõng em, nấu
cơm, rửa bát cho mẹ.
Trường cấp 1 Việt Long với 4 lớp học nằm bên bờ ao sát đường
lên huyện và cạnh Đình làng Tiên. Khác với lớp học mái lá vách
đất của lớp 1, chúng tôi được học trong lớp học lợp ngói. Ngôi trường cũng là nơi diễn ra các đám cưới của các cô chú ở
nhà máy. Ngày ấy câu khẩu hiệu cho mọi đám cưới là: Vui duyên mới không quên
nhiệm vụ và bài hát truyền thống mà cô Sinh đen hay hát cho các đám cưới là:
Tôi có yêu 1 cô nàng ở trong đám này, nàng trông xinh lắm nước da lại ngăm ngăm
đen…
Cô Lượng, cô Vĩnh đã dạy chúng tôi 5 điều Bác Hồ dạy, dạy
chúng tôi bài tập đọc ăn rau tốt hơn ăn thịt mà chẳng ai tin vì chúng tôi vẫn
thấy ăn thịt thích hơn ăn rau. Tôi còn nhớ 1 hôm tôi ốm, cô Lượng và cô Vĩnh đã
đến tận nhà thăm tôi. Tôi còn nhớ lũ học trò 6-7 tuổi chúng tôi đã đi bộ hơn chục
cây số, đi từ sáng sớm tới trưa, băng qua nhiều cánh đồng, ngôi làng để đến
thăm nhà Cô Lượng vào ngày tết. Cô Lượng ngỡ ngàng nhìn chúng tôi không hiểu bằng
cách nào lũ nhỏ lại tìm đến được nhà cô. Tôi còn nhớ nghỉ hè Cô Vĩnh đưa tôi về
nhà ở xã Lai cách đào khoai, mót lạc. Nhà cô nghèo nhưng cô cũng ra chợ mua chút cá về cho cậu học trò ăn.
Tôi đọc cuốn sách đầu tiên là cuốn: Cuộc phiêu liêu của
Mít đặc đến xứ sở mặt trời. Cuốn sách nhỏ cũ kỹ rách tới trang 5 và ở trang 5 sau nhân vật Mít đặc, Biết tuốt là nhân vật ruồi con. Cuốn sách hay đến nỗi
mà tôi quên cả nấu cơm bị mẹ mắng và tôi tìm đọc lại khi đã quá tuổi 50. Tiếp đến
tôi lân la gặp các cô chú có sách hay để mượn đọc. Những câu chuyện: Robinsơn
Cruxo, Người cá... đưa tôi vào một không gian mới. Không đủ chuyện, tôi đọc cả
ruồi trâu, viết dưới giá treo cổ...có gì đọc nấy..., mẹ cho được hào nào là để dành lên huyện mua sách. Ít tiền thì
mua, Chú đất nung, Anh lính chì, nhiều tiền hơn thì mua Kho tàng cổ tích Viet
nam…Ngoài sách, Đài là nguồn thông tin thứ hai quan trọng. Đêm đêm tôi học bài
tới chương trình văn nghệ đêm khuya để nghe những tác phẩm Vùng trời, Anh Hùng
Kanlich rôi nghe những chương trình văn nghệ sáng chủ nhật. Có những bài hát về
chuồn chuồn ớt, chuồn chuồn kim, về chú chích bong nghe nhiều thành thuộc. Ngày
mỗi ngày lượng kiến thức ít ỏi ấy tích tụ dần và đến khi trưởng thành nhìn lại
thấy cũng được chút vốn kha khá.
Những người
bạn tuổi thơ đầu tiên là Kế, cậu bạn hơn tôi 2 tuổi học cùng lớp 2, đẽo quay rất
giỏi. Mỗi lần cu cậu đẽo
được con quay tốt lại sang gạ tôi đổi lương khô. Chơi thân nhau nhưng có lần tôi ném cái đèn vào chân, cu cậu chảy máu
khóc hu hu, sau
này mỗi lần về thăm là Kế lại vạch chân chỉ vết sẹo khoe tình bạn đã khắc vào
da thịt. Kế có cậu em tên Thế cùng lứa tuổi, cùng chơi thân với tôi.
Có 1 lần Thế cõng em sang chơi, thấy tôi đang cúi xuống nhóm
lò than Thế thò tay bốc ruốc thịt trên chạn ăn. Tôi quay lại hỏi: Mày
ăn vụng hả? Thế tỉnh bơ: Không tao có ăn đâu nhưng trên mép còn vương vài sợi ruốc. Biết hỏi nó không khai, tôi cúi xuống tiếp tục thổi lửa và nói bâng quơ:
Chuột nhiều quá, mẹ tao bỏ thuốc chuột vào bát ruốc thịt, khối con chết lăn
quay. Vừa dứt lời Thế òa
khóc: Để tao về nói với bố tao rồi lật đật mếu máo quay lui. Thấy thương thằng bạn tôi nói: Tao đùa đấy, mày
ăn nữa đi. Cu cậu thút thít nhìn tôi lắc đầu. Tôi thò tay bốc ruốc ăn rồi nói: tại mày
ăn vụng nên tao dọa đấy, ăn đi, ruốc thịt Trung quốc ngon lắm. Thế nấc 1 hồi mới
thò tay bốc ruốc ăn. Hôm ấy mẹ tôi về hỏi sao ruốc hết nhanh thế nhỉ? Tôi im lặng
vừa ăn vừa cười thầm thằng Thế.
Có lần nghịch dại mẹ tôi đánh vậy là tôi nhịn cơm bỏ nhà
sang nhà Thằng Vinh. Đến bữa cơm nhà Vinh mời ăn cơm tôi lắc đầu: Cháu ăn rồi.
Nửa đêm đói bụng tôi cấu thằng Vinh thức dây: Tao đói quá. Vinh lồm cồm bò dậy
nói: sao lúc chiều bảo mày ăn mày lại không ăn, thôi xuống bếp có ngô bung. Tôi
và Vinh bò như biệt kích từ nhà trên xuống bếp, Vinh mở nồi ngô bung lưỡng lự.
Nồi ngô này phải rửa sạch vôi mới ăn được. Tôi nói cần gì rửa vậy là tôi làm 2
bát ngô với nước vôi mà thấy ngon. Có lẽ vì vậy mà sau này tôi bị đau dạ dày. Một
hôm đi học về nghe Vinh bị ngã xuống sừng trâu và trâu xóc lòi ruột, thương thằng
bạn chạy sang thì Vinh đã cấp cứu trên viện huyện.
Do tôi nghịch quá nên nhà tôi phải chuyển nhà nhiều lần.
Lần ấy nhà tôi ở nhờ nhà ông Khẫu. Mắt ông bị lòa chỉ nhìn xa khoảng nửa mét.
Ngày tết ông mang ống tiền ra đếm, mắt ông ghé sát từng đồng tiền. Thằng Hậu
con ông xin mấy đồng đánh đáo ông không cho vậy là nó gọi tôi lại mỗi đứa ngồi
1 bên. Nó thò tay định cầm 1 đồng xu, ông Khẫu nghiêng nghiêng mặt lắng nghe, đập 1 cái bốp vào tay thằng Hậu rồi ông lại nghiêng
nghiêng rình như cóc rình mồi. Thằng Hậu nháy mắt ý nói tôi động đậy bên kia
đánh lạc hướng. Ông Khẫu quay sang hướng tôi, thằng Hậu nhẹ nhàng thò tay định
lấy đồng xu. Bốp, 1 cái đập tay rất mạnh thằng Hậu la oai oái. Lạ nhỉ ông bị lòa
mà sao tinh vậy? Biết là chả lấy của ông được xu nào thằng Hậu rủ tôi chạy ra
sân chơi quay.
Ở đầu làng là nhà Thằng Đức con ông Quýnh, nhà ông Quýnh
nghèo nhất làng, nhà tranh vách đất, trong nhà chỉ có 2 cái chõng, mấy cái dây
thừng treo quần áo và cái chum sứt. Thằng Đức suốt ngày cởi trần chỉ 1 chiếc quần
đùi rách, cõng em đến vẹo lưng. Chỉ khi nó đi học lớp 1 thì mới thấy nó khoác 1
cái áo mà số mảnh vá và số màu nhiều không đếm được, chao ôi là rách. Tôi chẳng
biết chị dậu nghèo đến đâu nhưng nghèo như nhà ông Quýnh thì tôi chưa thấy. chẳng
có chú công nhân nào dám ở nhờ trong cái nhà chẳng ra nhà ấy. Vậy mà ông vẫn
cho bộ đội đất để làm nhà máy và điều mà tôi trân trọng là sau này gặp lại đ/c Bí
thư rồi chủ tịch xã là đ/c Đức Quýnh.
Năm lớp 3 Thầy tư chủ nhiệm lớp tôi. Chính Cô Lượng, Thầy Tư đã khơi dậy trong tôi những tiềm năng và niềm đam mê học. Thầy có chiếc xe đạp nam, thầy hay chở tôi đi thi học
sinh giỏi và chở tôi về nhà Thầy những ngày tết. Tôi yêu quí thầy như thầy Chính.
Cái Quản,
con bác Doanh ở đầu ngõ học cùng lớp với tôi. Một lần thầy Tư cho bài tập làm
văn tả người bạn thân nhất, rồi thầy cho từng đứa đọc bài văn của mình. Cái Quản
đứng lên ê, a: “Em có người bạn thân nhất trong lớp là Lê Tự Minh…” thế là cả lớp
ồ lên cười. Tôi xấu hổ chồm lên bàn trước định bợp tai cái Quảng thì Thầy Tư cười
và nói: Em ngồi xuống, bạn thân là tốt sao lại đánh bạn. Một lần khác làm thủ
công tự do. Quản thêu cái khăn có chữ Minh Quản và chữ Minh màu xanh, chữ Quản
màu đỏ, tụi bạn lại trêu ầm lên và từ đó khắp làng gọi tôi là: Minh xanh quản đỏ,
tôi ghét cái Quản và hễ thấy nó là muốn bợp tai. 27 năm sau gặp lại, cô bạn giải
thích: mình là Nguyễn Thị Minh Quản nên mình thêu Minh Quản chứ có liên quan gì
tới cậu đâu. Tôi và bọn thằng Kế lúc đó mới vỡ lẽ ngượng ngùng nhìn nhau. Nhìn
mái tóc nửa bạc của Quản mà ân hận về 1 thời cư xử trẻ con với bạn.
Năm lớp 4, chúng tôi phải xuống tận làng Rồng xa 3 km đi
học. Con đường tới trường theo con đê, qua 1 điếm
canh, 1 ngôi
chùa. Bọn trẻ con chúng tôi đã tìm đường tắt vào mùa hè. Đường tắt băng qua cánh đồng lúa và 1 con mương nhỏ.
Lũ con trai thường tụt quần dơ ngang đầu lội qua, lũ con gái nấp sau lùm cây chờ
tụi con trai qua cũng tụt quần dơ lên đầu qua mương như lũ con trai bởi chẳng
ai để ướt quần mà đi học. Con mương không sâu, không rộng nhưng sợ nhất là đỉa.
Nhiều lần chúng tôi nhảy dựng bởi sắp lên bờ thấy 1 vệt đen ngòm vắt bên mông.
Có thằng bị trêu là 2 chim vì đỉa bám vào chim, dứt mãi mới ra. Sau này các bác
nông dân bày cho 1 cách nhổ nước miếng vào tay rồi đổ nước miếng vào vòi đỉa là
đỉa tự nhả ra.
Cầm đầu các trò nghịch ngợm là Thằng sáu, con ông Mông.
Sáu lớn hơn chúng tôi vài tuổi, to khỏe hơn. Ngày nào đi học nó cũng đứng chờ
tôi ở cửa sổ. Sáu có tài đẽo quay, làm diều, làm sáo diều. Những con diều của Sáu
bay cao và tiếng sáo vi vu thật là thích. Bắt chước Sáu, tôi cũng tập làm diều
nhưng diều của tôi bé bằng bàn tay. Dây diều của Sáu bằng thép, tôi lấy cuộn chỉ
Trung quốc của mẹ làm dây. Chỉ phơi nắng, mưa có vài lần mà sau đó mẹ vá áo hôm
trước hôm sau chỉ bị đứt và tôi bị mẹ mắng. Có lần tôi và Sáu chui vào phân xưởng A1,
trộm sắt làm pháo. Bác Tôn - Ba của Đồng Sỹ Minh (lúc đó ĐSM còn ở Hải Phòng),
trễ cặp kính xuống sống mũi nhìn tôi và Sáu. Bác chẳng nói mà 2 thằng lại bò lùi ra ngoài.
Có lần thấy sáu đeo chiếc la bàn trên tay giống đồng hồ, tôi hỏi: mày lấy ở
đâu. Sáu tủm tỉm chỉ vào kho bên cạnh trường. Giờ giảỉ lao tôi chui vào tìm
không được “đồng hồ la bàn” nên tôi lấy cái la bàn to. Về nhà dấu dấu diếm diếm
bị mẹ phát hiện và roi lại vào đít. Không hiểu sao,
cái kho quan trọng là vậy mà không có bảo vệ, tụi trẻ con chỉ vén vách cót chui
vào lấy la bàn, lăng
kính ...để nghịch. Rồi một hôm bác Thiều quản đốc phân xưởng A5 đưa về 1
con dê. Lũ trẻ con trong làng nghe thành Bác Thiều mang chó Béc dê về nên sợ tái mặt. Thằng Sáu nhanh chân ném hết đồ ăn cắp xuống ao rồi đi học tỉnh
bơ. Đến khi biết là dê chứ không phải chó Béc dê thằng Sáu nhảy xuống ao cong
đít ngụp lặn mò mấy thứ đã vứt hôm trước.
Tuổi thơ của tôi ngọt ngào
với những buổi ngửa cổ
lên cây thổi ống thủy tinh bắn chim sâu cùng thằng Kế, Cây bưởi nhà ông Khẫu khục, cứ đến mùa là hoa nở
dày đặc trắng cây. Thằng Kế và tôi cầm ống thủy tinh với cục đất sét, miệng toe
toét đất, ngửa cổ nhìn theo những chú chim sâu quanh chùm hoa bưởi, chân lò dò
bước. Thằng kế phùng má thổi viên đất ra khỏi nòng thủy tinh. Con chim sâu rơi
xuống đất, nó reo hò vang xóm rồi ôm con chim chạy về. Nó là đứa bắn được chim
sâu bằng ống thủy tinh đầu tiên của xóm. Những vòng bi vòng đáo là một trò chơi
thú vị. Mỗi lần lên huyện là tôi lại ra đường tàu nhặt đầy 2 túi đá, về lấy dao
cùn đẽo gọt. Khi viên đá đã khá tròn thì tôi lấy 2 vỏ ốc nhồi đục thủng lỗ nhỏ,
cho hòn đá vào xoay. Khi hòn đá khá tròn tôi bỏ nó vào giữa hai miệng lọ
penicillin. Quay vài tiếng sẽ có 1 hòn bi đá tròn xoe như ý.
Đêm trung thu lũ trẻ con nhà máy tập trung
vào khu nhà ăn của nhà máy. Tuy kẹo bánh nhiều hơn nhưng dự trung thu với làng
vẫn vui hơn dù quà cho các cháu chỉ là múi bưởi hái vườn nhà. Mọi người xếp
hàng nhận bưởi xong thì đi ra còn thằng Sáu, thằng Kế nhận xong bưởi,
đút túi quần lại vòng lại xếp hàng lần 2, lần 3. Nếu bị
các cô phát hiện chúng nó lại quay xuống xếp hàng lần nữa. Dúi cho tôi mấy múi bưởi, thằng Kế kéo tôi
vào trò chơi và tôi cũng không quên đưa cho nó mấy cái kẹo. Ngậm kẹo trong miệng
nó xuýt xoa: Suya quá (tuyệt quá). Tiếng trống
ếch rộn vang trên sân đình, ánh trăng chiếu sáng từng góc sân, còn gì vui hơn.
Cái sân đình thật là gần gũi với chúng tôi, muốn chơi gì cũng ra đó. Tôi rất nhớ
một ngày chuẩn bị tựu trường, chúng tôi đang chơi đà giữa sân đình thì nghe tin
Bác mất. Tất cả trẻ con, kể cả những đứa nghịch nhất cũng lặng im thương xót.
Những điệu nhạc buồn mà tới nay tôi
không thể quên. Giong Bác Lê Duẩn đọc điếu văn trầm lắng đau thương.
Tôi thuộc lòng từng
ngóc ngách của làng Tiên. Nhà ông Kính, giữa làng có 1 cây ổi trước nhà, những
lần đi qua tôi lại hái ổi, lúc đầu thì quả ương sau thì xanh cũng hái nên chả
bao giờ tôi thấy có ổi chin trên cây ổi ấy. Ngày ông Kính chết tôi sợ ma gần nửa
năm cứ đòi nằm giữ mẹ và em. Đi ra giếng rửa bát hát thật to. Mấy cô chú nhà
máy đến chơi hỏi: Cháu Minh hay hát nhỉ. Mẹ tôi trả lời: Nó sợ ma đấy. Cuối ngõ
là nhà chú Chính. Nhà có 2 gian, 2 dường. Chú Chính cho 1 đôi vợ chồng trẻ của
nhà máy mới cưới ở nhờ. Buổi trưa 2 vợ chồng trẻ “tranh thủ”. Sau vài lần bọn
trẻ con biết tin kéo đến rình xem, vì lũ trẻ tranh nhau xem nên chuyện bị lộ và
tôi cũng bị 1 trận đòn. Mỗi lần gặp cô con gái đầu của đôi vợ chồng trẻ năm ấy tôi
lại cười thầm và trách mình dại dột…
Sau giờ
tan học tôi thích cầm nỏ cao su dạo quanh làng bắn chim. Một hôm tôi đang ngẩng
cổ dõi theo chú chim Bạc má mà tôi vừa bắn trượt thì bên kia bờ tường đất nhô
lên đầu ông Việt câm. Ông ơ, ơ chỉ tôi, chỉ lên trời rồi chỉ vào đầu ông. Lạ nhỉ
mọi ngày ông quí mình lắm sao hôm nay mắt ông đầy giận dữ. Thấy tôi dứng im nhìn, ông lại ơ, ơ chỉ tôi,
chỉ lên trời rồi chỉ vào đầu ông. Ông Việt Nghiêng đầu, tôi chỉ thấy đầu ông
hơi sưng 1 chút chẳng ra máu có gì ghê gớm đâu. Chết, bắn thế quái nào mà hòn
đá lại rơi vào đầu ông được nhỉ? Có lẽ trúng cành cây, đá văng xuống. Thấy ông
giận dữ tôi xin lỗi rồi lùi xa, nhưng chú Bạc má vẫn lách chách trên cây, tôi
dương nỏ làm phát nữa. Lần này ông Việt nhô lên với 1 cây cào mắt rực lửa đỏ
ngàu... Tôi cong đít chạy mất và từ đó hễ thấy tôi ông lại ơ, ơ, chỉ vào tôi,
chỉ lên trời rồi chỉ vào đầu ông, và tôi lại rẽ sang đường khác.
Những năm cấp 1 cũng dần qua. Ngày thi tốt nghiệp Thầy Tư
đưa tôi ra hố giải nói cách giải bài toán trước giờ thi. Vì đứng cạnh thầy đi
giải tôi ngượng nên không nghe được lời dặn của thầy và tôi không làm được bài
toán đó. Thầy tư xuýt xoa giận tôi và đi vòng quanh bàn thi. Tôi đỗ tốt nghiệp
và vào cấp 2 và từ đó không được gặp người thầy mà tôi rất kính yêu. Có một lần,
khi tôi đã lớn nghe chương trình văn nghệ chủ nhật trên đài, một người lính xe tăng tên Trịnh Bá Tư là thầy giáo ra chiến trường anh dũng
hy sinh tôi đứng lặng người đau xót. Ngày gặp lại Thầy tôi mừng hết biết và hiểu
câu chuyện trên đài năm xưa chỉ là chương trình văn nghệ.
Chúng tôi vào cấp 2, đường tới
trường dọc theo
bóng mát của rặng phi lao và hương thơm của những cánh đồng lúa. Chiếc loa phóng thanh đầu làng du dương lời hát: Hàng cây năm xứa
chúng em trồng, nhiều năm qua vươn thẳng tắp…mỗi lần chúng tôi tới trường. Lũ bạn tôi có những cái tên thật ngô
nghĩnh: Xì, mò, Nghểng, Chiêng... cùng tới trường.
Vào cấp 2
, tôi vẫn nghịch và nhà tôi lại di chuyển.
Chú Đoàn cho mẹ tôi 1 khu đất làm nhà. Nhà tôi ở 2 gian còn nhà cô Sàng ở 1
gian, bên bờ cái ao làng. Từ nơi
đây các khả năng câu
cá của tôi phát triển nhanh. Chú Thanh đã dạy cho tôi cách câu các loại cá: Cá
trê, lươn câu mồi giun thối. Cá chép, cá giếc câu mồi giun sống sát đáy ao, cá rô mồi cơm trộn thính
thả lưng mặt nước, cá
quả mồi nhái móc nhẹ vào phần da sau đít nhái và đế
con nhái vừa chạm mặt nước để nó tự đạp nước gọi cá quả tới...Cứ sau giờ học, tôi ra ao kiếm vài con
cá cho mẹ nấu canh. Rồi chú Thanh lại bày cho tôi cách làm bẫy chim chèo bẻo với
mồi dế, cào cào... Sau khi buộc con dế trũi nằm ngửa trên cật tre, chân đạp vung vít trong
không trung, tôi vít cành tre xuống, cài nhẹ cái lẫy và đặt vòng dây thòng lọng quanh cái hố
gài lẫy. Tôi và cu Tám (nhỏ hơn tôi 5 tuổi) con chú Đoàn rút xuống hầm chờ mấy
chú chim chèo bẻo lao xuống. Cu Tám nhấp nhổm thò đầu xem, tôi phải ấn cổ
nó xuống. Chờ mãi không thấy gì, tôi vào nhà học bài. Đột nhiên cu Tám la lên:
được rồi. Tôi sung sướng lao đến cái cần bật bật, chả thấy chim đâu mà 1 chú gà
đang nhảy câng cẫng vì bị treo cổ, mắt trợn ngược. 2 anh em thả gà ra nhìn nhau
cười. Sau 27 năm trở lại làng Tiên, nhìn thấy tôi, cu Tám kêu ầm lên: Ôi anh Minh, Ôi lèo ôi
anh Minh bẫy chim, bẫy cả gà nhà em đây mà, rồi cu Tám chạy tới nắm chặt tay
tôi lắc lắc như gặp lại chiến hữu oai hùng năm xưa.
Năm 1972, khi tôi đang học lớp 6 trường cấp 2 Xuân Giang,
bỗng thấy các cô chú nhà máy đeo súng đi làm. Rồi mẹ tôi đào hầm dưới giường. Một
hôm trời hơi lạnh, chúng tôi lên đê chơi. Bỗng mọi người hô lên: Nhìn kìa. Từ
phía Hà nội những vầng lửa bừng sáng, rồi 2 vệt sáng vút lên, rồi những cặp vệt
sáng vút lên, chìm trong mây rồi lại ló ra vút lên. Cái gì vậy nhỉ? Chẳng ai hiểu
là gì. A tên lửa bỗng một người hô to và chúng tôi đứng trên đê hô to: tên lửa,
tên lửa. Đột nhiên giữa bầu trời 1 vầng lửa bừng sáng. Khắp con đê chạy theo
sông Cà lô những tiếng hô vang dậy. Cháy rồi, máy bay mỹ cháy rồi bà con ơi. Thế rồi vầng lửa thứ 2, vầng lửa thứ 3... bùng lên trên
bầu trời, ngay trên đầu chúng tôi. Chúng tôi reo hò khản cổ. Oành, Oành... Đột
nhiên những tiếng nổ chát chúa vang lên làm ù tai. Chẳng cần phải nhắc, cả trăm con người đang đứng trên đê nằm lăn ra đê, lăn xuống
chân đê. Ngỡ tưởng mọi người biết sợ sau loạt
bom nhưng chỉ 10 phút
sau tất cả lại đứng lên hò reo: Cháy nữa rồi, ơ, ơ... Phía bên kia bờ sông có
vài phát súng trường, súng lục, rồi tiếng hô đi bắt phi công bà con ơi. Mọi người
rần rần xuống vệ đê. Tôi gọi theo: Chú Thám ơi chờ cháu đi bắt phi công với. Bỗng
từ nơi xa giong mẹ tôi vang lên: Thám ơi đừng cho cháu đi theo, rồi mẹ tôi quát
còn to hơn: Minh, về ngay. Tôi không theo chú Thám đi bắt phi công nhưng nán lại
xem các cột lửa đang rơi từ trên trời xuống. Sáng hôm sau, chúng tôi đi học qua
xác chiếc máy bay bên bờ đê. Chiều đi học về nhìn hố bom sâu hoắm ở giếng ông Sứ
cách nhà tôi 10 m và nhìn quả bom nửa nổi, nửa chìm giữa sân nhà bà Thái cách
nơi chúng tôi dứng trên đê hò reo hôm qua khoảng 50m. Thật là hú vía, nếu 1
trong 2 quả bom ấy nổ thì có lẽ tôi không có tên trong danh dách 10 C hôm nay.
Quanh làng râm ran chuyện bắt phi công, chuyện bà
nông dân ở
làng Lai cách 3 ngày sau đi làm khoai, thấy đôi mắt trong luống khoai đã vứt liềm vừa chạy
vừa hô và cuối cùng dân quân đã bắt được nhà phi hành gia tên tuổi của không lực Hoa kỳ. Những quả bom rơi vung vãi quanh làng và
quanh nhà máy rất nhiều. Mãi về sau chúng tôi mới hiểu đó là trận đầu của chiến
dịch 12 ngày đêm trên không và những chiếc máy bay rơi
chính là B52.
Thế rồi nhà máy lại một lần nữa sơ tán lên Xuân Hòa, tôi xa rời mái trường
cấp 2 Xuân giang, xa rời làng Tiên nghèo mà nghĩa tình, xa những thằng bạn nghịch
ngợm và thân thiết của tuổi
thơ. Dù có đi dâu và làm gì, dù Tiên Tảo vẫn là vùng quê nghèo thì trong tôi vẫn
ấm áp 2 chữ Làng Tiên, nơi cho tôi một tuổi thơ ngọt ngào và
nghĩa tình.
Năm 2008 tôi đã toại nguyện khi mời các thầy cô từ cấp 1 tới cấp 3 về Huế,
Trong số các thầy cô có Thầy Tư, Cô Lượng, cô Vĩnh, Trong số các bạn có Sáu,
Tám...Phúc, Thu, Hòa và Đinh Cao Long và sau đó Tháng 5/2013 tôi cùng Phúc,
Thu, Long về làng Tiên thăm các thầy cô và lũ bạn thời ấu thơ của tôi mà giờ
này họ đã trở thành bạn của Phúc, Long, Thu, Hòa...
